Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

“BỎ PHỐ VỀ QUÊ” RỒI LẤY GÌ ĐỂ SỐNG?

Đây chắc hẳn là câu hỏi băng khoăn nhất của các bạn khi lựa chọn rời ra thành phố về với núi rừng bình yên. Min xin đưa ra giải pháp của bản thân. Đó là kết hợp “ LÀM NÔNG NGHIỆP SẠCH+ YOUTUBE+ HOMESTAY “


Chào các bạn,lại là Min sống ở nông trại 8860m2 tại Đức đây. 


Nhiều bạn bảo rằng đã về quê được một thời gian, rồi chịu không nổi cảnh làm ruộng “ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời “ rồi phụ thuộc quá nhiều vào thời tiết.  Năm nào thời tiết thuận lợi, mùa màng bội thu thì lại rớt giá. Cả làng cả xóm nông sản đầy mà chẳng ai mua. Nên vài ba năm “ về quê , về rừng “ bạn lại khăn áo lên thành phố tìm việc. Và bạn cảm thấy tuy ở phố chật chội hơn, nhưng cứ gõ bàn phím ngày 8 tiếng thì cuối tháng lĩnh tiền nhàn tênh. Không phải lao động vất vả như ở nông thôn, rừng núi .



Đọc đến đây Min bất chợt thở dài. Ai đời lại dại vậy. Bạn lên thành phố ăn học chục năm rồi ra trường có bằng cấp trong tay. Mà bạn về quê, về rừng chỉ để trồng rau, trồng nông sản như các cô các bác ở ngoài quê. Rồi làm sao bạn làm nổi? Dù bạn có ráng cày cuốc cực lực, mùa màng bội thu thì sao bạn cạnh tranh nổi với các cô nông dân gắng bó với nghề nông gần bằng số tuổi của các cô? 

So về kỹ thuật thì bạn không bằng các cô được, so về kinh nghiệm thì bạn lại chẳng có chút gì. Rồi cô chú nông dân có mối mang thu mua nông sản từ chục năm nay. Bạn về quê, bạn làm nông và trồng y chang người ta, người ta không la bạn thì thôi. Chứ ai rãnh đâu giúp bạn? 


Tiền tiết kiệm bạn về quê vài ba năm tiêu là hết vốn. Lại lội ngược lên thành phố kiếm tiền để mong sau này có cục tiền lớn rồi về quê an hưởng tuổi già. 


Nếu bạn nào có dự định về quê làm nông truyền thống thì Min khuyên thật, bạn nên ở lại phố để cố gắng đi làm rồi dần dần thăng chức. Nó còn dễ thành công và an nhàn hơn ở nông thôn nhiều. 



RỜI PHỐ THÌ LẤY GÌ SỐNG? Min đã băng khoăn câu hỏi này từ lâu. Và Min giờ Min đã có câu trả lời . Hy vọng sẽ giúp được các bạn đôi chút trong công cuộc rời phố thị xô bồ:


- Về quê đất rộng người thưa. Nông nghiệp truyền thống mình không cạnh tranh được, thì mình làm nông nghiệp công nghệ cao hoặc trồng rau củ sạch, rau củ hữu cơ để bán cho người chịu chi. Người này đa số là người giàu, họ không quan tâm rau củ giá bao nhiêu tiền, mà học quan tâm là rau củ có đủ sạch có đủ ăn toàn cho sức khoẻ. Đắc một chút như ăn toàn là họ sẽ mua. Mình mới có nơi để tiêu thụ chứ. 

- Về ngoại ô gần phố, chọn chỗ nào đẹp đẹp. Bạn cải tạo vườn, cải tạo nhà cửa rồi mở homestay đón khách tới lưu trú cũng là một ý kiến hay. Tuy nhiên ai cũng mở homestay thì lấy đâu ra khách? Là sao để khách biết đến homestay của bạn đặt phòng, trong khi ở đâu cũng có và giá lại rẻ hơn homestay của bạn?

- Nhóm bạn khác không chọn làm nông, không chọn làm homestay mà chọn sáng tạo video cày view trên mạng xã hội để kiếm tiền từ YouTube / Tiktok/…Nhưng bạn làm nhiều video cũng chả ai xem, chả ai ủng hộ trong khi tiền tiết kiệm ngày một ít đi. Bạn không chịu nổi áp lực cơm áo gạo tiền trong thời gian khó khăn lúc đầu. Rồi dần dần bạn chán. Bạn cũng bỏ cuộc và khăn áo lên thành phố kiếm việc .


Thay vì mình làm riêng lẻ 3 công việc trên thì thành quả mang lại không lớn, nhưng khi bạn kết hợp cả ba công việc trên thì hiệu quả lại bất ngờ . 


- Khi bạn cuốc đất, lập vườn thì bạn quay lại quá trình làm việc. Đó như một cách lưu giữ kỷ niệm cũng như cách để giới thiệu cho farm,homestay của bạn 

- Khi bạn thu hoạch rau củ, bạn cũng quay video lại. Đó là cách bạn tiếp thị sản phẩm

- Khi bạn hoàn thành xong homestay, bạn cũng quay video lại. Đó là cách quảng bá homestay đơn giản nhất mà không tốn một đồng nào.



Trong làm nông thì mình kết hợp Vườn- Áo - Chuồng. Còn khi “ bỏ phố về quê, về rừng” thì mình kết hợp “ làm vườn- làm homestay- tự quảng cáo trên MXH” . Một công bạn làm, nhưng bạn giải quyết hoàn toàn từ khâu sản xuất nông sản- giới thiệu sản phẩm- tiêu thụ sản phẩm” thì bạn đâu phải lo lắng gì về tương lai phải không?


Khi bạn xác định về quê là bạn phải có kế hoạch rõ ràng ngay từ đầu. Bạn xác định về quê để làm gì? Và làm sao kiếm tiền trên mảnh đất đấy. Mảnh đất nào cũng có hũ vàng cất dấu. Quan trọng là bạn có biết khai thác tiềm năng của nó hay không ?


Ngoại Ô Đức- The Suburban Life 

Nhật ký của mẹ- Hành trình của con

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2021

Nguyện cầu bình an cho những ai đã ra đi và những người còn đang ở lại

 Hôm nay tôi hay tin một người chị tôi rất ngưỡng mộ đã qua đời vì đột quỵ. Cuộc đời của chị dừng lại ở tuổi ba mươi ba, khi cô con gái bé bỏng chỉ mới vài tuổi.

Tuổi trẻ của lứa chúng tôi, những đứa mê du lịch bụi, ai cũng biết đến đến anh chị, cặp đôi đẹp, trai tài gái sắc và vô cùng dễ thương. 

Tôi bàng hoàng không tin vào những gì mình đọc được, trong giây phút choáng váng, tôi ôm con gái đang ngủ say và khóc, khóc như chị là chính tôi vậy. Như thể là người thân thương lắm, mặc dầu tôi chỉ là một người dõi theo, yêu mến gia đình anh chị thôi chứ không phải thân thiết gì. Chị và tôi đều là mẹ, là vợ, là con cái của những gia đình nhỏ. Đều có người thương yêu và trông chờ sớm tối. Tôi hình dung, về chồng và con gái mình sẽ đau đớn ra sao, nếu nhỡ như điều gì ập đến. 

Tôi không biết có người mẹ nào mà không sợ chết, khi con mình còn bé bỏng hay không. Còn tôi, từ ngày có con, tôi bắt đầu sợ chết. Không những vậy, tôi cũng sợ bị ốm, bị tổn thương thân thể. Có lẽ con sinh ra để tôi biết nâng niu chính bản thân mình hơn, cả khi tôi đã từng nghĩ mình đã yêu bản thân lắm rồi. 

Đời sống này thật sự quá đỗi mong manh, tựa hồ như cái bám níu của giọt sương trĩu trên lá cỏ, thoảng một cơn gió nhẹ là rơi ra rồi. 


Có nhiều thứ trôi chảy trong lòng tôi lắm, như một bản nhạc đến hồi gay cấn, những hơi thở đương như nhanh hơn, tim đập liên hồi và nước mắt tuôn rơi, tôi nghe tiếng gió bấc rít ngoài hiên, trời se sắt lạnh. Khóc một hồi, tôi thấy cơn xúc động của mình cũng qua đi, nó cũng có một cuộc đời, có sinh và có diệt. 


Năm rồi, chúng tôi bận lòng vì khá nhiều chuyện ngoài thân. Giận hờn một đôi mối bằng hữu vì những va chạm trong đời sống. Có những khi chán nản chỉ muốn lủi vào thật sâu trong rừng sống, bởi vì ngại giải quyết các mối quan hệ. Dịch bệnh ập đến đã mang đi biết bao là sinh mệnh, khiến chúng tôi cũng trùng lắng xuống mà không còn bận lòng quá nhiều. Nhưng hôm nay, hay tin chị đi, đột ngột như ngọn nến đang cháy rực thì bị người ta thổi tắt. Sau bao nhiêu là bàng hoàng xót thương, ngừng khóc, tôi thấy lòng mình chợt nhẹ bẫng sau một chiều đông. Mọi chuyện hơn thua, ai đúng ai sai, ai giành giật cái này ai trốn tránh cái kia đều không còn quá to tát nữa. 


Có thể người bạn hôm qua đã có một hành động khiến mình buồn, hoặc như người em hôm qua đã lỡ làm gì đó có lỗi với mình, ừ thì mình đã ấm ức, đã khó chịu. Nhưng nghĩ mà xem, đời sống này mong manh lắm, giả như người ra đi hôm nay có bạn ấy, liệu mình có giận nữa không. 


Lòng mình giờ đây chỉ còn lại những tiếng ru ngọt ngào và êm ái, như màu dịu dàng của hoàng hôn. Mọi giận hờn phai nhạt dần như nắng tắt dưới hàng thông. Phải rồi, nhỡ mai ấy chết, lấy ai mà giận hờn. 


Có lẽ sự hữu hạn của đời sống này chính là điều đẹp đẽ nhất, bởi nó khiến mọi khoảnh khắc đều giới hạn.  Không có gì là mãi mãi, cách duy nhất để sống mãi là sống ngay giây phút này, khiến hiện tại và vĩnh hằng trở thành một. 


Vì biết trước là sẽ chết, vào bất kỳ lúc nào, nên con người có một khả năng vượt thoát diệu kỳ, khỏi những tị hiềm nhỏ mọn. Để tình thương yêu và lòng bi mẫn tuôn chảy trong thâm tâm như suối nguồn bất tận. Chính trong đau thương và mất mát, chính trong sợ hãi và ngục tù của bám chấp mà tâm hồn sẽ được trưởng dưỡng mà  vươn lên. 


Xin được nguyện cầu bình an cho những người đã đi và những người ở lại.

Xin yêu thương tưới mát nhân gian. Xin xua tan đi những vầng mây u tối.

Xin cho những ai còn sống hãy sống hết bây giờ.

Và mãi mãi về sau. 


Vườn Nhỏ, 4.12.21

Hạnh Lem

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

ĐÀ LẠT & SƯƠNG MÙ SỢ HÃI

Chủ nghĩa giăng dây đang chế ngự khắp nước nên thành phố du lịch Đà Lạt hào hoa hiếu khách cũng không tránh khỏi.

Giăng dây đang biến thành một cách "cai trị".

Đà Lạt những ngày này đầy mưa, sương mù và gió lạnh. Tôi nhìn thấy những cửa hàng đóng cửa, một vài khách sạn bị giăng dây. Dãy quán cà phê nơi đầu dốc lên khu Hòa Bình bàn ghế phủ đầy bụi, chỉ còn hai quán Phượng Tím và Phố Hoa tiếp khách lèo tèo( ảnh). Khách sạn ế ẩm. Chợ Hòa Bình cũng bị giăng dây, xe gắn máy muốn vào cổng chợ phải khai báo y tế...

Đà Lạt mua giăng dây Covid-19

 

Đà Lạt mà tôi đang nhìn thấy là một thành phố đìu hiu, thiếu sức sống. Không chỉ con người mà thiên nhiên hình như cũng đang run rẩy. Khách lữ hành như tôi muốn được ngủ khách sạn phải có giấy test covid âm tính. Người ta ko cần biết anh chích vax hay chưa, chỉ cần miếng giấy thần thánh đó mà thôi. Một số cửa hàng ăn uống còn treo thông báo:" Người các tỉnh thành khác đến Đà Lạt phải có giấy test âm tính 72 giờ".

Có cảm giác như núi đồi Đà Lạt đang bị nỗi sợ hãi trùm phủ.

Ngày hôm kia, đang dự sinh nhật tại nhà một người bạn thì cậu ta bảo mạng xã hội loan tin một phụ nữ đẹp có đứa con nhỏ đã bị bắt vì liên quan đến dân chủ.
Buồn thật khi dân chủ cũng là một cái tội.
Người đưa tin nhạy cảm trên phây bút phải dùng đủ loại ký hiệu để tránh thuật toán kiểm duyệt, khiến Việt ngữ bị xé nát, nhiễu loạn và suy đồi. Ngay cả tôi cũng phải dùng cách đó để hành hạ tiếng Việt của chúng ta mỗi ngày. Thế mà còn chưa thoát nổi thằng Mắc và anm.
Cả đời mình, tôi ko chạy thoát nổi sự kiểm duyệt. Làm báo cũng bị mà viết phây cũng bị. Chả còn không gian nào mang lại tự do cho người cầm bút, ngay cả không gian do chính người Mỹ yêu tự do tạo ra như Fb.

Nhìn đâu cũng thấy sợ hãi, từ cuộc sống thực đang diễn ra trước mắt đến những tin tức trên mạng xã hội.
Một màn sương mù sợ hãi bao phủ đời sống người dân, đầu độc xã hội và ngay cả sương mù tại phố núi mà tôi đang ghé thăm, có cảm giác như chính nó cũng đang sợ hãi con người- những kẻ tạo ra nỗi sợ.
Tôi từng yêu thích bà Aung San Suukyi, người được Nobel hòa bình, chỉ vì 1 câu nói:" Ngục tù duy nhất là nỗi sợ, tự do duy nhất là tự do thoát khỏi nỗi sợ".

Thật ra, tự do thoát khỏi sợ hãi là một quyền căn bản của con người, đồng hành cùng các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do thoát khỏi nghèo đói. Tứ đại quyền này đã được đề cập trong bài diễn văn nổi tiếng đọc trước quốc hội Mỹ năm 1941 của cố tổng thống F.D.Roosevelt.
Ko có gì dễ cai trị con người bằng nỗi sợ, chính vì vậy nó là phương pháp đầu tiên của các nhà độc tài. Hitler đã dùng nó, Stalin và Mao Trạch Đông đã dùng nó, giờ đến Tập và cu Ủn dùng nó và các nước cs đang dùng nó.

Thế nhưng, bọn độc tài có thể ko cho chúng ta tự do ngôn luận hay tín ngưỡng hoặc ko cho phép ta thoát khỏi nghèo đói, nhưng quyền thoát khỏi nỗi sợ là cái quyền mà chúng ta có thể chủ động sử dụng bất cứ lúc nào. Vấn đề là chúng ta có muốn và có dám hay không thôi.

Tôi thì đã thoát khỏi nó vào ngày hôm qua, yesterday, bất cứ lúc nào trong ngày hôm qua, haha.

Bài chia sẻ của bác Vinh Râu trên FB.

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2021

VỊ LINH MỤC QUẢN XỨ ĐẦU TIÊN CỦA GIÁO XỨ SAPA BỊ CS SÁT HẠI!

 Đã được đến thăm nhà thờ Sapa này 🌹🌹🌹🌹🌹💝💝💝💝💝🙏🙏🙏🙏🙏


Nguồn: Fb Lm Đặng Hữu Nam 


VỊ LINH MỤC QUẢN XỨ ĐẦU TIÊN CỦA GIÁO XỨ SAPA BỊ CS SÁT HẠI!


Sapa là một điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, nơi có những nét đặc trưng về khí hậu, là nơi duy nhất trên nước Việt Nam có những năm vào mùa Đông được chứng kiến tuyết rơi.

Sapa còn nổi tiếng về cảnh vật thiên nhiên phong phú với ruộng bậc thang độc đáo, nhiều hoa quả đặc trưng của vùng miền này và là nơi hội tụ những sắc tộc thiểu số với nhiều nét văn hoá đa dạng … Chính điều ấy đã thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tìm đến.


Nằm ngay tại trung tâm của thành phố Sapa, trên ngọn đồi cao là ngôi Thánh đường bằng đá độc đáo với kiến trúc Gotic Rôma – là kiến trúc được xây theo hình Thánh giá, thể hiện ở mái nhà, tháp chuông, vòm cuốn … đều là hình chóp tạo cho công trình nét bay bổng thanh thoát. Từ năm 1895 ngôi nhà thờ này đã hiện diện tại đây như dấu tích cho đời sống đạo Công Giáo trải qua hơn 125 năm.



Nhưng ít ai biết đến cha quản xứ tiên khởi của Giáo xứ Sapa là một vị linh mục Thừa Sai người Pháp đã bị sát hại ngay giữa lòng nhà thờ. Đó là Cha Jean-Pierre Idiart Alhor thuộc Hội Thừa Sai Paris – M.E.P (Missionnaires Etrangers de Paris).


Cha Jean-Pierre Idiart Alhor, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1904 tại Bunus (Pyrénées-Atlantiques) thuộc giáo phận Bayonne. Ngài gia nhập chủng viện ngày 10 tháng 09 năm 1926, và được thụ phong linh mục vào ngày 17 tháng 12 năm 1932.


4 tháng sau ngày chịu chức, vào ngày 21 tháng 04 năm 1933, ngài tình nguyện lên đường sang Việt Nam truyền giáo. Giáo phận Hưng Hóa, vùng núi Tây Bắc là nơi ngài được sai đến phục vụ. Tại đây, ngài đã nhanh chóng hội nhập văn hóa và học ngôn ngữ tiếng Việt, trong thời gian làm thư ký cho Tòa Giám mục ở Hưng Hóa, từ năm 1933 đến năm 1937.


Sau đó ngài được sai đến với đồng bào sắc tộc thiểu số H’Mông tại vùng núi Sapa. 

Ngay lập tức, ngài học tiếng dân tộc H’Mông và nhanh chóng xử dụng được ngôn ngữ này để giao tiếp với đồng bào sắc tộc. 

Tại Giáo xứ Sapa, với hai giáo lý viên người Việt, ngài đã thành lập cộng đồng tín hữu Công giáo Việt và viếng thăm đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống tại các bản làng xung quanh.



Năm 1942, trong thời chiến tranh vùng Đông Dương, ngài cũng đã tiếp đón những nữ tu người Pháp rời Nhật đến Sapa. 

Khi chính quyền Pháp tạo điều kiện cho việc định cư cách Sapa tám cây số, cha Idiart-Alhor bắt tay vào việc xây dựng một tu viện mới cho các nữ tu này. Là một kiến trúc sư, ngài đã thực hiện công việc này cách nhanh chóng và một tu viện đẹp đẽ mọc lên phục vụ cho cộng đồng. Với việc ra đời của tu viện, cùng với sự phục vụ của các nữ tu, cha Idiart-Alhor hy vọng rằng đời sống đạo tại khu vực xinh đẹp này sẽ nhanh chóng phát triển. Nhưng chiến tranh đã làm tiêu tan tất cả những dự án của cha.

Tháng 03 năm 1945, ngài bị Việt Minh bắt cùng với những người Châu Âu khác đang sống tại Sapa. Cộng đoàn Công Giáo tại đây bị lục soát và bị theo dõi nghiêm ngặt. Sau 3 tháng bị bắt giam, họ trục xuất ngài về Hà Nội. Khi tình hình trở nên khá hơn, cha Idiart-Alhor lên lại với Sapa.


Vào ngày 01 tháng 11 năm 1947, cha Idiart-Alhor trở lại với giáo xứ Sapa. Ngài lại tiếp tục công việc truyền giáo bằng việc thăm viếng các bản làng thuộc giáo xứ Sapa trong phạm vi khoảng 100km vuông. Nhà thờ vẫn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên các Kitô hữu Kinh cũng như H’Mông đã sơ tán khắp nơi khi Việt Minh kiểm soát vùng này.

Cha Idiart-Alhor lại tìm đến với các bản làng H’Mông kêu gọi họ trở lại Đạo. Nhưng Việt Minh tìm cách theo dõi và ngăn cản cha không cho đến với các bản làng. Vào sáng ngày 18 tháng 05 năm 1948, khi đang suy gẫm trước giờ cử hành Thánh Lễ ngay trong nhà thờ Sapa, họ đã ập vào đánh đập cha và sau đó đã chặt đầu cha đem đi vất trong cánh rừng phía sau Nhà thờ. Một tuần sau, những người dân tộc thiểu số đã tìm được thủ cấp của cha, họ đưa về chôn cất cùng thi thể của ngài.

Hiện nay mộ của ngài nằm ngay sau nhà thờ, bên cạnh hang đá Đức Mẹ. Ngài nằm đó cùng với Đức Giáo Mục Tiên Khởi của Giáo phận Hưng Hóa là Đức Cha Paul Ramond (Đức Cha Lộc).


Sau cái chết của ngài nhà thờ bị bỏ trống. Bà con tín hữu Công giáo Kinh cũng như các dân tộc thiểu số khác ly tán khắp nơi. Một số khác sống đức tin của mình trong âm thầm. Khu nhà thờ và nhà xứ bị chính quyền chiếm dụng làm nhà ở và nhà kho. 

Năm 1995, sau gần 50 năm Nhà thờ Sapa mới được trả lại cho người Công Giáo. Tiếng chuông đồng của nhà thờ lại ngân lên.

Tiếng chuông vang từ ngọn tháp cao đến tận các bản làng xa xôi của người H’Mông và bà con giáo dân lại quy tụ về để thờ phượng Chúa.

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

Hải sản Phú Quốc - Thầy Khánh và hải sản Phú Quốc - Foodexpress

Mấy năm trước, tui hay đăng hải sản Phú Quốc lên Facebook khiến nhiều người "bực bội" vì... thèm. Rồi nhiều anh chị em, bạn bè nhắn bảo tui mua giùm gửi, tui sẵn tính nhiệt tình nên không từ chối ai bao giờ. Mua giùm riết bạn bè đâm ra ngại nên đề xuất tui chuyển qua kinh doanh để mọi người đỡ áy náy.

Hải sản Phú Quốc - Quốc Bình 093.999.4828 ship tận nơi Tp.HCM và Hà Nội

 

Thấy đề nghị hợp lý nên tui làm liều nhảy ra buôn bán hải sản thiệt. Và cứ thế, ngoài giờ lên lớp là tui túc trực ở cảng cá, bến tàu... lựa chọn hải sản tươi ngon để gởi khách hàng.

Sáng nào cũng vậy, 4 - 5 giờ sáng là tui dậy đóng thùng chở lên sân bay, mang theo cặp sách để gửi hàng xong là về trường dạy học luôn.

Nhiều bữa, bước vô lớp mình mẫy còn vương mùi cá mực. Học sinh hiểu và thương thầy nên cũng ráng chịu đựng chứ không nói gì.

Và tui buôn bán hải sản Phú Quốc được 3 năm. Nói thật là 3 năm đó, thu nhập từ buôn bán hải sản trở thành thu nhập chính, lương đi dạy chỉ là phụ. Tôi đã nghĩ tới việc đầu tư làm lớn, thuê người, mở rộng cơ sở...

Nhưng tui vốn là người khá cầu toàn, làm việc gì cũng muốn thật hoàn hảo nên sợ mình mở rộng ra liệu có đảm bảo được chất lượng như trước.

Đặc biệt tui sợ đến 1 lúc nào đó, tui lại muốn bỏ nghề giáo để kinh doanh hải sản luôn. Nói vậy không phải tui coi thường nghề tôm cá mà tui thích đi dạy. Tui muốn được hàng ngày đứng trên bục giảng, được nhìn những ánh mắt ngây thơ của học trò...

Và tui quyết định dừng bán hải sản khi đang ở giai đoạn ăn nên làm ra. Nhiều bạn hàng cảm thấy hụt hẫng và khuyên tôi đừng dừng lại.

Trang fanpage "Hải sản Phú Quốc - Thầy Khánh" do tui lập ra với tâm niệm "không chỉ là thương hiệu mà phải là nhân hiệu" - tui vẫn giữ lại đến nay. Nhiều khi nhớ nghề tui vô trang để xem cho đỡ nhớ.
Có người đề nghị tui nhượng lại trang fanpage "Hải sản Phú Quốc - Thầy Khánh" nhưng tui từ chối vì muốn giữ làm kỷ niệm.




Nhưng giờ tui quyết định chuyển giao trang này cho bạn tôi - Trần Quốc Bình - khi thấy bạn ấy đang kinh doanh hải sản với những tiêu chí giống mình ngày trước.

Tôi đến nhà bạn Bình, xem hệ thống lồng phơi được đầu tư kỹ lưỡng, chống côn trùng xâm nhập để thấy bạn đặt an toàn cho sức khỏe khách hàng lên hàng đầu như thế nào.

Rồi hệ thống tủ lạnh bảo quản, máy hút chân không được đầu tư bài bản... tôi thấy mình nên giới thiệu cho bạn bè biết như một kênh lựa chọn nguồn thực phẩm an toàn cho gia đình mình.

Vậy bà con xa gần muốn đặt hàng hải sản Phú Quốc các loại xin hãy liên hệ bạn Bình qua số điện thoại: 0939.99.4828.

Chắc chắn bạn sẽ hài lòng như đã từng hài lòng khi đặt hàng của tui mấy năm trước.

Hải sản tươi ngon Phú Quốc ship ngay trong ngày Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Lạt... cấp đông, đóng thùng xốp gởi bằng xe đông lạnh hay máy bay qua các hãng hàng không bay chuyến 16g mỗi ngày.








Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

BỐC PHÉT VỀ PHỞ BÒ & PHỞ GÀ



1-Về mặt lịch sử phở mà nói, thì chỉ có phở bò gọi là phở. Người Việt trước đây ăn gà luộc chứ không ăn phở gà, cũng như họ ăn phở bò chứ không ăn bò luộc. Như Nguyễn Tuân chẳng hạn, thì ông chỉ gọi phở bò là phở mà thôi.







Tuy nhiên, dù xuất hiện sau phở bò, phở gà dần đã trở nên...phở, theo nghĩa có công chúng riêng, có các trường phái riêng, và thực sự đã có một bản tính (nature) riêng, khác hẳn phở bò
Vậy bản tính của phở gà là gì?
2-Trước khi nói đến bản tính của phở gà, phải nói đến bản tính của phở nói chung. Nhìn chung, mọi người đều công nhận một điều, hồn cốt của phở nằm ở nồi nước dùng. Có đắp lên mặt bát phở miếng thịt ngon đến thế nào, mà cái nồi nước dùng hỏng, thì bát phở ấy cũng hỏng. Ăn phở, tức là ăn một tổng thể, chứ không phải đi ăn thịt bò, thịt gà chan nước. Phỏng ạ? Nhìn theo góc nhìn Gestalt, tức góc nhìn cho rằng toàn thể không phải là tổng của các bộ phận riêng lẻ , thì rõ ràng kẻ nào nhận xét về phở kiểu như "phở nhà ấy thịt bò/gà ngon nhưng tiếc cái nước dùng kém", chính là một kẻ thực bất tri kỳ vị.
3-Trở lại bản tính của phở, tức là cái hồn cốt mà nếu không có nó thì không làm gì có cái gọi là phở, ta sẽ thấy rằng, cái hồn cốt của phở gà khác hoàn toàn cái hồn cốt của phở bò
Khác ở đâu. Xin trình bày ngắn gọn như sau.
4-phở bò dùng thịt đỏ, tức một thứ thịt có màu sắc được tạo ra từ việc vận động cơ bắp với cường độ cao, dẫn đến hàm lượng myoglobin rất cao, và đây là nguồn cơn làm cho thịt đỏ có mùi nặng hơn thịt trắng. Chính điều này làm cho việc khi nấu nước dùng bò ta phải dùng một số hương liệu như hồi, thảo quả để trung hoà mùi nặng của thịt/xương bò (trung hoà chứ không làm mất mùi, vì mùi nồng nồng này chính là một bản tính của nước dùng bò). Việc sử dụng hồi, thảo quả thậm chí còn đủ sức át mùi của mực hay sá sùng---những nguyên liệu làm cho nước dùng phở bò trở nên đậm đà sâu đằm.
Hệ quả là, sau khi xương ống bò được hầm ninh kỹ, các chất ngọt từ tuỷ hoà cùng sá sùng hay mực, đồng thời mùi oi nồng của mấy thứ đó được trung hoà bằng hồi, thảo quả đã biến nồi nước dùng bò thành một kết cấu vô cùng đặc biệt, dày dặn, nồng hương, béo bùi ngọt lịm đậm đà (ấy thế mà một số trường phái phở bò như dòng nhà ông Tư Lùn vẫn còn nêm thêm cả nước mắm)
Trong thuật ngữ rượu vang có một chữ là aftertaste dùng để nói về hậu hương, hậu vị của những chai vang ngon (thậm chí, ở những chai vang ngon, cái aftertaste này còn lưu lại ở miệng từ 1-3 phút, theo bậc thầy rượu vang Kevin Zraly.). Chính cái nước dùng phở bò là một thứ mà theo kẻ hèn này, ở những hàng phở thành công, sẽ tạo ra aftertaste. Ăn xong bát phở mà hương vị còn nồng nàn khắp ba phần lưỡi (đầu, giữa, cuối). Thậm chí, nó còn nồng sực lên cả vòm khoang mồm miệng một lúc lâu (không phải ngẫu nhiên mà cạnh mọi hàng phở đều có một hàng nước chè kẹo lạc ăn cho thơm miệng trờ lại)
Chính ở đây là nơi bản tính nước dùng phở gà đối lập với bản tính nước dùng phở bò. Nếu như với nước dùng phở bò, như phân tích ở trên, cái hồn cốt của nó là sự đậm đặc (cả về vị cả về màu nước), nồng hoi, bện dệt nhiều hương vị, thì nước dùng phở gà, nếu muốn phù hợp với bản tính của phở gả, lại là điều gì hoàn toàn trái nghịch.
Thịt gà là thịt trắng, và như thế, theo phân tích ở trên, nó là một thứ thịt thơm (ít hàm lượng myoglobin). Nó thơm tới mức người ta có thể ăn vã (luộc lên, không nêm nếm hương vị gì sất cả). Chính vì cái bản tính này của thịt gả, nên nước dùng của nó phải được nấu sao cho duy trì được mùi thơm của thịt gà (chứ không phải của bất kỳ thứ gì khác, dù đó là nước hoa Creed hay tinh dầu gỗ đàn hương-là hai mùi hương kẻ ngu hèn này yêu say mê).
Một nổi nước dùng gà ngon, từ đây suy ra, là một nồi nước dùng không cần gì ngoài việc làm nền cho các miếng thịt gà (mồi miếng thơm một kiểu, thịt đen thơm bùi, thịt trắng thơm thanh, da thơm béo). Cái nền nước dùng ấy chỉ cần được làm lung linh lên đôi chút thôi, bằng các vị thơm kiểu trang sức, như hành tím nướng, hạt mùi rang hay gừng nướng, chứ không bao giờ cần tới mấy thứ sặc sụa như hồi quế thảo quả vân vân.
Trong thuật ngữ rượu vang có một chữ là aroma. Aroma là hương đầu tiên của ngụm vang. Cái nước dùng phở gà, thật ra chỉ là như vậy. Tất cả đều phẳng như thể một phông nền chỉ có nhiệm vụ giúp cho hương thơm của thịt gà nổi lên. Việc duy trì được tính trung gian này của nước dùng phở gà quan trọng tới mức bất kỳ một mùi nào quá hắc cũng không được phép cho vào (ví dụ lá chanh), vì khi ấy nó sẽ phá đi tính chất trung gian dẫn lối của ngụm nước dùng. Về mặt thị giác, thì cũng chính vì cái bản tính trung gian này của nước dùng gà, mà với phở gà, một nồi nước dùng ngon phải được nấu thật trong (váng mớ gà nổi lên trên cũng trong vàng lấp lánh chứ không được phép đục ngầu như ở nồi hước dùng phở bò)
Nói tóm lại.
Ngon dở là chuyện vô cùng, ai cũng có quyền có khẩu vị riêng
Thế nhưng
Bản tính là điều quan trọng. Dù khẩu vị riêng của anh/chị thế nào đi nữa? Nếu anh/chị vi phạm bản tính (Nature) của món ăn, thế thì là anh/chị sai dồi nhé
Ngon, là phải ngon trong bản tính riêng của mỗi sự ngon khác nhau
Nấu nướng, là phải nấu nướng trong bản tính của từng món mà ta nấu nướng
Đòi phở gà phải ngon bằng cái ngon của phở bò, và ngược lại, thì, nói xin lỗi, là bỏ mẹ rồi
Có phỏng ạ?
Thưa bả con cô bác
Kkkkkk
Kính
Nghệ sỹ nghèo
Kiêm
Thi sỹ nghèo
Kiêm
Kẻ hèn
Kiêm
Cô Huy Đà lạt
Kiém
Roaster & Barista phường 10

Nguyen Nhu Huy

Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2021

Huyền thoại về con người vĩ đại ALEXANDRE YERSIN

 ALEXANDRE YERSIN

Một người Pháp vĩ đại
Là Yersin, là người
Mà chúng ta, dân Việt
Phải chịu ơn suốt đời.
Chịu ơn từ y tế,
Đến nhập các giống cây,
Xây dựng các thành phố
Và đường xá hiện nay...
Thế mà ta có vẻ
Cứ tỉnh bơ như không -
Không có tượng xứng đáng,
Đại lộ mang tên ông.
Trong khi nhiều tượng khủng,
Phố lớn hoành tá tràng
Mang tên các lãnh tụ
Vớ vẩn hoặc làng nhàng.
Tôi mà là thủ tướng,
Tôi thay tượng Lê-nin
Bằng tượng người Pháp ấy,
Alexandre Yersin.
________
MỘT NGƯỜI VĨ ĐẠI MÀ CHÚNG TA CHỊU ƠN
HÔM NAY 01/3 LÀ NGÀY MẤT CỦA BS. ALEXANDRE YERSIN NGƯỜI PHÁP GỐC THUỴ SĨ CÓ CÔNG LAO TO LỚN ĐỐI VỚI VIỆT NAM. XIN ĐƯỢC KÍNH CẨN NGHIÊNG MÌNH NGƯỠNG MỘ VÀ BIẾT ƠN ÔNG!❤️
Alexandre Yersin







Hiện nay cà chua, cà rốt, các loài Hoa phương Tây ở Đà Lạt... ;cà phê, Điều, Tiêu.... mà Việt Nam xuất khẩu mang về hàng tỉ USD có từ đâu? Chắc ít ai nghĩ đó là do công lao của bác sĩ Yersin!
Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu.
Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương "dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ". Ông nói "đời mà không đi, thì còn gì là đời".
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur "mời ăn tối và nghe báo cáo", "thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể".
Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời".
Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.
Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xông cà chua....(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng "tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân". Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Với tầm nhìn vĩ đại, bác sĩ Yersin không chỉ làm khoa học mà còn giỏi nhiều thứ. Ngoài việc mang sang cho chúng ta bao nhiêu giống cây trồng vật nuôi mới lạ, khám phá và xây dựng Sapa Đà Lạt Bà Nà...thành những nơi du lịch nghỉ dưỡng, ông còn tham gia quy hoạch đô thị khu trung tâm Sài Gòn Hà Nội Nha Trang Đà Nẵng Hải Phòng, ranh giới các tỉnh....mà chúng ta ngày nay hay có cụm từ "ngày xưa người Pháp đã quy hoạch chỗ này là, chỗ kia là..". Ông đã giúp người Việt chúng ta có được nền tảng kinh tế ban đầu từ một nước thuần nông lạc hậu, những công trình về hạ tầng, giáo dục, y tế. Do chính quyền Pháp khi đó rất tín cẩn ông, vì ông đi nhiều khám phá nhiều. Hầu như mọi ngóc ngách ở Lào, Việt Nam và Campuchia đều có dấu chân ông. Núi cao vực sâu, thú dữ, bệnh tật...không hề làm ông nản bước. Ông luôn yêu cầu Pháp phải xây dựng nhiều trường học ở các tỉnh của Việt Nam và ý kiến cho Pháp đầu tư tiền để xây đường sắt Bắc Nam từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn, hiện chúng ta vẫn còn đang khai thác. Con đường quốc lộ 1A thời đó là con đường đất nhỏ xíu (gọi là con đường cái quan) bề rộng chỉ có 2-3 mét từ thời chúa Nguyễn đã được ông "bày vẽ" cho kè đá, rải nhựa, mở rộng nâng cấp để xe ô tô có thể chạy được. Ông nói phải ưu tiên làm con đường to nhất, tốt nhất gọi là quốc lộ, chạy ngang qua hết các tỉnh ven biển để người dân tỉnh nào cũng có thể hưởng lợi từ giao thông. Đường sắt Phan Rang đi Đà Lạt cũng là ông tư vấn cho toàn quyền Doumer làm. Các trạm khí tượng từ Sapa đến Mẫu Sơn đến Bạch Mã, các ngọn hải đăng ngoài biển mà chúng ta thường nói "do Pháp xây" là do ông chọn vị trí. Những gì ông có thể nghĩ ra, ông đã làm tất cả cho người Việt.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu. Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo "thôi đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông "dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ lại thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém....của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi đến một miền đất nghèo xa lạ. Ông nói "tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và sẽ phụng sự tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".
Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối.
Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi".
Nếu bạn đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo....để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn BS Yersin. Công lao của ông với dân tộc mình, với đất nước mình là không bao giờ kể hết. Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin để thấy những tranh cãi lặt vặt, những suy nghĩ tầm thường đã phí thời gian cuộc đời mình. Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để các thế hệ mãi mãi biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.
Và mỗi người, nếu đọc được những dòng chữ trên thì hãy học tập ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN. Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe - cái nhà - miếng đất - bằng cấp - chức vụ - công danh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân, xả thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của riêng mình. Bỏ quê hương đi đến chỗ phồn vinh thì dễ, quay về làm cho nó giàu sang văn minh thì mới khó. Mà khó cỡ nào, mình quyết tâm là làm được hết. Cuối đời, mình tự hào vì đã góp phần vô việc MAKE A BETTER VIETNAM.
Phàm làm người, ai càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn, không hối tiếc.
Xuân Kỷ Hợi,2019.
By Fanpage Tony Buổi Sáng.
Nguồn copy: thầy Thái Bá Tân